Nơi đất ấm tình người

Những năm gần đây, khi đồng lương nhà giáo đã được cải cách, đời sống của giáo viên cũng được ổn định. Một người dạy học, nếu sống tiết kiệm thì tiền lương và phụ cấp có thể nuôi sống cả gia đình nhỏ của mình không phải thiếu hụt như mấy mươi năm về trước. Với đồng lương hiện nay, tôi có thể trang trải đủ cho cuộc sống của mình và hưởng thụ chút ít giống như mọi người trong xã hội. Trường lớp khang trang, điều kiện công tác tốt và đặc biệt là nghề dạy học được mọi người tôn vinh nên những người làm công tác giáo dục hiện nay cũng có thể tự hào vì mình đang làm một nghề cao cả - nghề làm nên những nghề khác… không như ngày xưa dạy học là một trong những nghề nghèo nhất nên muốn tồn tại con người ta phải lao vào những cuộc mưu sinh khác như một nghề tay trái. Cuộc sống ngày nay đã thật sự thoát khỏi những thiếu thốn khắc nghiệt ấy thế nhưng tôi không thể nào quên những năm tháng gian lao khi tôi mới ra trường giảng dạy ở Tân Thành Bình – nơi mà trong ký ức tôi luôn là mảnh đất ấm tình người bởi những tấm lòng tràn ngập yêu thương, sẵn sàng tương trợ nhau khi cần thiết trong giai đoạn cuộc sống còn nhiều khó khăn vất vả.

Đường làng tôi

Tôi ra trường vào năm 1990 – lúc mà bài thơ “Chiều tháng năm” của Đỗ Trung Quân đã làm cho nhiều người phải đau xót bởi ông thầy giáo nghèo núp sau tủ thuốc bán cho đứa học trò mà không dám nhận mình là ai. Cái mặc cảm của người thầy làm nhói đau biết bao trái tim của những con người mà hồ bao vốn chứa đầy tri thức, ngày từng ngày cứ sàn lọc, tom góp từng con chữ đúc kết thành những trang giáo án góp cho đời những bài học mà chỉ được nhìn nhận như những kẻ buôn chữ hoặc người chèo đò trên sông đổi công sức lấy bát gạo đồng tiền trang trải cho cuộc sống mà có khi cũng chẳng đủ vào đâu vì đồng lương quá ít ỏi. Đúng vậy, để tồn tại được, tất cả thầy cô giáo yêu nghề phải tìm cho mình một công việc khác bằng đủ mọi cách miễn sao những công việc đó không ảnh hưởng đến đạo đức nhà giáo và làm hoen ố tấm gương sáng của học sinh. Ví dụ như thầy dạy môn Toán phải ra đầu đường đón mua hột gà từ bốn giờ sáng rồi chở qua thị xã Bến Tre bán lại kiếm đồng lời, cô dạy Văn phải trồng rau lang nuôi heo và cắt mỗi ngày mang ra chợ bán, một thầy giáo khác phải để bàn vé số để trước cửa chào mời những người qua lại mua dùm… Tháng lương đầu tiên của tôi chỉ có hai mươi hai ngàn đồng, đủ để mua hai mươi lít gạo trong thời điểm đó. Nếu uống cà phê, ăn sáng mỗi ngày thì chưa đủ thì nói gì đến quần áo, phấn son. Từ Tân Thanh Tây, mỗi ngày tôi phải đạp xe gần hai mươi cây số và qua hai chuyến đò mới đến trường phổ thông cơ sở An Thạnh để dạy học. Đi riết rồi mấy ông chèo đò cũng biết tôi là giáo viên nên không thu tiền nữa. Bài học Tiếng Nga đang viết dỡ thì Phòng  Giáo Dục Đào Tạo mời tất cả giáo viên Tiếng Nga tập trung về thương lượng vì Tiếng Nga không còn dạy trong các trường phổ thông mà thay vào đó là Tiếng Anh nên chúng tôi phải tự lực vào những lớp đêm ở các trung tâm ngoại ngữ tự bỏ tiền ra học. Thế là tôi được chuyển về công tác tại trường PTCS Nguyễn Văn Tư xã Tân Thành Bình làm Giám thị phụ trách 12 lớp khối sáng vì trường này gần bến phà Hàm Luông, sẽ thuận tiện cho việc học Tiếng Anh ở thị xã.

Lần đầu tiên đến Tân Thành Bình tôi đi lên rồi đi xuống quốc lộ 60 mấy lượt tìm ngôi trường cấp II để nhận nhiệm vụ. Người này chỉ trường này, đến nơi thì người khác lại bảo trường kia mới đúng bởi đó là trường cấp I, II đang trong giai đoạn phân chia nên việc tìm ngôi trường của mình quả thật không phải dễ. Một anh du kích vác súng đi trực qua đêm ở Ủy ban xã về thấy vậy đã đưa tôi vô đến trường. Đó là một ngôi trường  mái lá đơn sơ nằm sát quốc lộ và tiếp giáp với một cánh đồng nên phía sau trường là một màu xanh mơn man của lúa với những làn sóng nhấp nhô mát rượi khi làn gió thổi qua lùa cả mùi hương lúa ngậm sữa bay vào các lớp học. Qua mùa nắng, khoảng sân rộng đầy cát dưới ánh nắng thiêu đốt, hơi nóng bay vào làm rát cả da thịt và cái cảm giác khô đến khát nước uống hoài không đã trong khi mồ hôi cứ tuôn ra nườm nượp…Sợ nhất là những buổi chiều trời đổ mưa, cả dãy phòng học tối thui không nhìn thấy chữ và tiếng nhái bầu ngắt nga vang rân cùng với tiếng mưa đồm độp trên mái nhà thì hầu như các em không còn tập trung học được. Phần thì lo đối chọi với cái lạnh, phần thì lo tránh những hạt mưa bay và nghĩ đến đoạn đường dài về đến nhà trong mưa sẽ lâu hơn mọi bửa trong khi cái bụng thì luôn réo gọi từng cơn…

Do mới được tách ra từ trường cấp I, II nên mọi cơ sở vật chất thuộc đều thuộc về trường Tiểu học vì đó mới là cơ sở chính. Trang thiết bị dạy học chẳng có gì ngoài mấy cây thước và compa cũ kỹ, một quả địa cầu và mấy tấm bản đồ Sử có Địa có… Thư viện chỉ là mấy chồng sách mục nát không còn đủ bìa, văn phòng Ban Giám Hiệu là mái lá lụp sụp lổm chổm với “nắng soi hột vịt mưa già tàn ong” cùng mấy cái bàn mối ăn gần như mục rệu trơ chìa nên mỗi khi đặt tay lên bàn sơ ý là vướng chỉ áo. Từ nhà tôi đến trường khoảng mười hai cây số, với chiếc xe đạp cà tàng của tôi phải mất gần một giờ đồng hồ tháo mồ hôi đạp xe mới đến nơi. Nói đến chiếc xe lại nhớ một kỷ niệm sâu sắc với đồng nghiệp chung trường. Thầy Trang Hoàng là giáo viên dạy môn Toán với tay trái mạnh hơn tay phải vì thầy là chủ một cửa hàng bán phụ tùng, sơn sửa và lắp ráp xe đạp. Nhiều lần thầy gợi ý giúp tôi đổi một chiếc xe đạp mới vì chiếc xe cũ đã hư hỏng nhiều, ngay cả sườn xe cũng đầy dẫy những dấu hàng gió đá bởi nó chính là phần thưởng đậu vào lớp 10 ba mua cho tôi để xuống trường huyện học. Xe mới thì rất ham nhưng nghĩ đến số dư nợ phải trả khoảng ba tháng lương nên tôi không dám nhận. Cho đến một ngày kia từ trên dốc phà Hàm Luông đổ xuống, tôi cảm thấy chạy xe mà êm và run như đưa võng vậy. Tôi dừng lại xem thử thì rắc co đã gãy nên cọng sườn nó bung ra quặt quà quặt quại làm run run như thế. Vậy là thầy kè xe cho tôi về tiệm để sửa chữa nhưng không còn sửa được vì tất cả đều rệu hết. Vậy là tôi có được chiếc xe đạp mới ngoài mong đợi để chạy thẳng lưng với thiên hạ, bù lại đó mấy tháng lương hè coi như không có xu nào... Thấy đường xa như vậy, về nhà không tiện mà cơm hàng cháo chợ thì làm sao đủ tiền nên vợ chồng Thầy Thai và cô Nga lên tiếng nấu cơm cho tôi và cô Hiệu trưởng cùng ăn. Thầy Thai và cô Nga là đôi vợ chồng nhà giáo mẫu mực sống đúng nghĩa “một túp lều tranh hai quả tim vàng” trong thời buổi “thóc kém gạo cao” mà vẫn sẵn lòng khi người khác cần sự giúp đỡ dù biết rằng người được giúp khó mà trả được món nợ ân tình đó cho cô. Vợ chồng thầy sống trong nhà tập thể, nói là nhà tập thể nhưng thật ra đó chỉ là mái lá được nối dài từ văn phòng Ban Giám Hiệu, được ngăn ngang bởi một vách lá thưa thớt nếu lấy tay vạch cũng có thể chui qua được. Thế nhưng gia đình thầy sống rất hòa thuận và vui vẻ, điều đó làm dấy lên trong tôi một niềm khát khao mơ tưởng về một mái ấm đơn sơ rộn rã tiếng nói cười và những bửa cơm đạm bạc với ngọn rau con cá trong vườn cũng như những đêm trăng sáng ngồi bên nhau uống chun trà ôn lại kỷ niệm ngày xưa…Quả thật vô cùng lý tưởng, chừng như điều này chỉ có trong văn chương dưới ngòi bút thêu dệt chứ đời thường khó mà tồn tại dài lâu bởi con người vốn mưu cầu những thứ cao hơn xa hơn tầm tay mình nắm giữ. Với hạnh phúc đơn sơ mà thắm đượm nghĩa tình như thế, thầy cô đã nuôi dạy hai đứa con khôn lớn trở thành những người hữu ích cho xã hội, nhất là bé Nghị năm xưa ốm yêu gầy còm nay đã là giáo viên giảng dạy nhiều năm tại trường THPT Lê Anh Xuân. Chị hai Thiên Thai ngày ấy giờ công tác tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Mỏ Cày Bắc. Mỗi lần đến đó, nó đều nhìn tôi với ánh mắt trìu mến như xưa còn tôi thì nhìn nó là con bé Mơ hiền lành ngoan ngoãn lúc nào cũng dạ thưa rối rít khi tiếp chuyện với người lớn. Hơn nửa cuộc đời đã đi qua, rất nhiều cặp vợ chồng tôi đã gặp trong mọi hoàn cảnh hay những biến cố thăng trầm của cuộc sống, trong số đó phải nói là tôi ngưỡng mộ gia đình này bởi từ thuở hàn vi đến khi khá giả hai người vẫn sống hạnh phúc với nhau như thể họ mới vừa yêu và cưới vậy. Mỗi khi gặp lại cô thầy, nhắc chuyện ngày xưa mà ai cũng thấy nghèn nghẹn. Những năm tháng giảng dạy ở Tân Thành Bình, với tôi là một chuỗi kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời làm thầy nên sau này dù ở đâu, cuộc sống có thoải mái thế nào đi nữa tôi cũng không thể quên những tháng ngày ấy. Cô Nga là giáo viên tiểu học chỉ dạy buổi chiều nên mỗi sáng cô đi chợ Xếp mua một ít cá rau đem về nấu bửa sáng trong khi các con đi học. Mỗi buổi trưa, khi trống trường báo hiệu hết tiết năm, lúc mà cái bụng xẹp lép và bắt đầu có những tiếng kêu phát ra nghe “ót ót” thì bữa cơm trên bàn nhà cô đã được dọn sẵn. Tôi và cô Hiệu trưởng sang đó ăn cơm với gia đình cô thầy. Mâm cơm sáu người trưa nào cũng vui và ngon như một bàn tiệc dù chẳng có chi là sơn hào hải vị. Nếu hôm nào dì ba của sắp nhỏ qua thăm cháu thì trưa hôm đó chúng tôi sẽ có được một phần la sét để ăn. Khi thì mấy củ khoai, bửa thì vài củ chuối được luộc sẵn . Vừa ăn, các cô thầy vừa nhắc lại những chuyện ngày xưa – những lúc khó khăn nhất mà những người làm công tác giáo dục hầu như muốn “buông gươm” bỏ bục giảng trở về nhà tìm một cuộc mưu sinh khác với hy vọng rằng sẽ tốt đẹp hơn khá giả hơn. Và tư tưởng đó cứ ăn mòn trong suy nghĩ của biết bao nhiêu người nên chỗ đứng của người thầy không khác chi một kẻ chèo đò đưa khách qua sông với tinh thần trách nhiệm thay vì phải mua gánh bán bưng giữa chợ đời vất vã nên cái nghề “buôn chữ” ấy có cao cả chăng chỉ là do người thầy tự cảm nhận chứ có mấy ai nhìn nhận bao giờ.

Có người nói “Tôi không làm thầy giáo

Cái nghề bạc tựa như vôi…”

Có mẹ bảo “Con lớn lên đừng làm thầy  cô giáo

Cái nghề nghèo…khó kiếm sống… con ơi”

Cũng cái nơi bến sông hội tụ những con đò ấy chính là trường đời đã dạy cho tôi biết bao những bài học làm người thiết thực. Tôi đã học cách sống vui sống khỏe từ ngôi trường ấy, từ lòng yêu nghề mến trẻ của các thầy cô, từ tinh thần đấu tranh vượt khó cũng như lòng yêu thương con người, dìu dắt che chở nhau cùng vượt qua những khúc quanh của cuộc sống…

Những buổi trưa ăn cơm xong, cô Nga bắt buộc tôi và cô Hiệu trưởng phải nằm nghỉ một lát chuẩn bị cho công việc buổi chiều, phần dọn dẹp để lại cho bé Nghị phụ trách. Mỗi khi lãnh lương, nói nghe oai chơi chứ thực ra chỉ có mấy chục ngàn chưa đủ để mua một khúc vải may cái quần cái áo. Cô Nga chỉ nhận của tôi chút ít tiền tượng trưng để tôi không ngại mà tiếp tục ăn cơm với gia đình. Cứ như thế, vợ chồng cô thầy đã cưu mang tôi suốt hai năm cho đến khi tôi trở về trường Cao Đẳng sư phạm để học lại lớp tại chức Tiếng Anh dành cho những giáo viên Tiếng Nga trong thời kỳ gọi là đổi mới.

Không chỉ riêng thầy Thai và cô Nga, ở Tân Thành Bình còn có rất nhiều bà con xung quanh trường, luôn sẵn sàng hỗ trợ cho thầy cô giáo, những người tận tâm với nghề dạy học. Chú thím Bảy Châu nhà đối diện trường, hễ có giỗ quải tiệc tùng là chuẩn bị xong hết mới đến mời giáo viên sang ăn cơm chứ không hề báo trước, vì sợ chúng tôi sẽ chuẩn bị quà cáp trong thời buổi đồng lương chết đói. Bà chín Màu nhà ở khu Miễu cũng vậy, bà thường mời tôi ăn cơm trưa, mỗi ngày bà đều làm cho tôi một ly nước cam bưng vào tận lớp học dù đôi chân khấp khiểng và bà không hề có đứa  cháu nào học ở đó. Còn, và còn nhiều nhiều nữa, những tấm lòng của bà con ở chung quanh trường PTCS Nguyễn Văn Tư năm ấy. Gia đình cô Nga, chú thím Bảy, bà Chín… và những bữa cơm đạm bạc đầy ắp nghĩa tình đã thật sự đi vào lòng tôi. Nó là nền tản, là cơ sở vững chắc tạo nên tiền đề tốt đẹp cho tôi để tôi có được tình yêu thương, gắn bó với sự nghiệp trồng người cho đến hôm nay.

Sau mấy mươi năm dạy học, đất nước giờ đã thật sự chuyển mình sang trang sử mới với điều kiện công tác nhiều thuận lợi và phù hợp cho ngành giáo dục song hành với những nhiệm vụ và mục tiêu cao hơn được đặt ra đòi hỏi người giáo viên phải phấn đấu hơn nữa để bám bục giảng thay vì hồi xưa phải phấn đấu để không phải rời bỏ nó mà chạy theo những cuộc mưu sinh khác. Ngày nay, cuộc sống nhà giáo đã dần chuyển sang bước mới: đồng lương ổn định, con mắt nhìn của mọi người cũng trở nên phóng khoáng hơn bởi hầu như giáo viên bây giờ ai cũng có nhà cao cửa rộng và xe máy đủ loại để đi lại thay cho xe đạp cũ kỹ ngày trước. Một chị bạn của tôi kể một kỷ niệm đau lòng rằng có một lần đi dự đám giỗ ở đâu đó chủ nhà đãi đằng quan khách và quay sang bàn của giáo viên vui vẻ nói “Mấy thầy cô cứ ăn tự nhiên đi, lâu lâu mới có dịp ăn một lần… Đừng ngại…” Đó là một nơi khác không phải Tân Thành Bình nơi tôi đã một thời gắn bó với những tấm chân tình cao quý dành cho những người thầy trong thời buổi khó khăn thiếu thốn. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Đúng vậy, cũng chính vì thế mà tôi không thể nào quên những tình cảm cao đẹp mà bà con ở xã Tân Thành Bình đã dành cho những giáo viên nhà xa như tôi. Tôi luôn trân trọng khắc ghi những tình cảm cao quí đó. Nó chính là nền tản, là tiền đề tốt đẹp cho người cầm phấn, là nét văn chương tuyệt vời cho kẻ cầm bút như tôi. Yêu biết mấy những năm tháng gian lao nơi đất ấm tình người, lúc mà đồng lương giáo viên chỉ đủ uống cà phê mà tôi chưa một ngày đói cơm khát nước.

      Bút ký của Kim Chi

  Kính tặng gia đình Cô Nga, Thầy Thai ở Tân Thành Bình

Các tin cùng chuyên mục